Tranh chấp môi trường-Thực tiễn xử lý
Environment Consultancy Center, 18 Hoang Quoc Viet, Hanoi, Vietnam. Tel: +84 4 62968157

Liên hệ: 04. 629 68 157 - 09 88 88 29 49

Trong thời gian gần đây, ở VN xuất hiện các tranh chấp về môi trường. Điều này chứng tỏ vấn đề môi trường đang là vấn đề nóng hổi được nhiều tầng lớp quan tâm, ý thức của người dân được nâng lên, hệ thống thực thi quyền lực nhfa nước về quản lý, kiểm soát môi trường ngày càng phát huy hiệu lực, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng hoàn thiện, các chuẩn mực về môi trường ngày càng được hoàn thiện...

Song bên cạnh tính phổ biến, thì tranh chấp môi trường cũng có nhiều vând đề cần xem xét trên cả khía cạnh pháp lý và thực tiễn. Bởi có quá nhiều vấn đề phát sinh, chưa có tiền lệ hoặc sự hiểu biết còn hạn chế.

Bởi vậy, tìm ra cơ chế giải quyết thích hợp cho loại quan hệ này là vấn đề cần đáng được quan tâm.

I. Khái niệm và dặc trưng:

Tranh chấp môi trường được hiểu là những xung đột giữa cá nhân, tổ chức, các nhóm có quyền lợi liên quan đến môi trường. Nhưng hiểu như vậy chúng ta thấy rằng tranh chấp chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp, trong khi môi trường luôn mang tính toàn cầu, không có giới hạn về không gian, khoảng cách... Bởi vậy, tranh chấp môi trường còn được diễn ra đối với các chủ thể là các quốc gia, vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế, ... đại diện cho các nhóm có quyền và lợi ích đối lập nhau. Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Việt Nam, chúng ta có thể rút ra các kết luận sau:

1. Ở VN, tranh chấp MT thường được coi là dạng tranh chấp dân sự. Tuy trong BLHS quy định về tội liên quan đến Mt nhưng vẫn chưa cá thể hoá được tội phạm, dẫn tới tranh chấp này chỉ mang nặng về tranh chấp dân sự.

2.  Tranh chấp MT càng ngày càng phổ biến được thể hiện dưới nhiều hình thức như tổ chức cản trở xe trở rác, khiếu kiện đòi bồi thường...

3. Việc giải quyết tranh chấp chỉ diễn ra chủ yếu do thương lượng, vai trò của Toà án rất mờ nhạt. Có lẽ Toà án VN cũng chưa có nhiều kinh nghiệm về xét xử vụ kiện MT cũng như việc thực thi quyền tư pháp về môi trường đôi khi có những cản trở nhất định như kinh nghiêm, trình độ liên quan đến xét xử có yếu tố liên quan đến các công ước mà Việt Nam tham gia và phê chuẩn như vấn đề về hạn ngạch CO2, quyền phát thải, xác định mức độ thiệt hại...

4. Việc xác nhận nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại là vấn đề cực khó. Mức độ thiệt hại, lỗi, đối tượng chịu sự tác động...  Theo quanđiểm chuyên môn, tôi cho rằng việc xác định nguyên nhân là có thể, còn mứcđộ lội, mức độ thiệt hại là không thể trừ khi có sự thừa nhận của chủ thể gâyô nhiễm.

5.  Khung chế tài xử lý hiện nay mang nặng hành chính như buộc di dời, khôi phục-phục hồi, đóng cửa, phạt tiền (Tới 500 triệu),...màít mang tính kinh tế bởi các cơ chế kinh tế ràng buộc như không cho lưu hành nếu khôngđạt tiêu chuẩn MT, quy chế Tem xanh, rào cản kỹ thuật như ISO 14001, Kaizen; quy định bắt buộc kiểm toán MT khi sản xuất hàng hoá, ...

6. Trong số các nguyên tắc xử lý tranh chấp có 1 nguyên tắc được nêu đó là " Người gây ô nhiễm phải trả tiền (Trả giá)". điều này là hoàn toàn chính xác nhưng do đặc trưng của laọi hành vi vi phạm này có những đặc thù như cơ chế tác động, mức độ ảnh hưởng...

 II. Cơ chế giả quyết:

Cơ chế giải quyết tranh chấp là các phương thức, công cụ, tổ chức thực hiện đê giải quyết các tranh chấp.

Trong số các nguyên tắc được giải quyết tranh chấp, nguyên tắc ưu tiên sử dụng là người gây ô nhiễm phải trả tiền (Trả giá) và tham vấn chuyên gia. Xuất phát từ 2 nguyên tắc này, chúng tôi xin đưa ra các yếu tốliên quan như mức độ thiệt hại, đối tượng chịu tác động của hành vi vi phạm MT, các chứng cứ... Khi xem xét các vấn đề này, chúng tôi thấy đây là vấn đề hóc búa bởi xung đột môi trường có các đặc trưng như nói ở trên.

III> Phương thức giải quyết

Như nói ở trên và thực tiễn tại các quốc gia khác, tranh chấp MT như tranh chấp về dân sự. Bởi vậy nguyên tắc ư tiên giải quyết là thương lượng, hoà giải là chủ yếu. Việc đưa tranh chấp ra Toà, trong tài là rất hãn hữu.

Trên thực tế có 1 phương thức được sử dụng và có tác dụng cao đó là sử dụng sức ép tập thể như biểu tình, vận động tẩy chay hàng hoá... Đây là các phương thức được các tổ chức như Hoà bình xanh, tổ chức bảo ve MT, hoà bình, hiệp hội, cộng đồng... ỞVN cũng có nhiều trường hợp cả làng không cho xe đổ rác, buộc nhà máy đóng cửa...

Liên quan đến phương thức giải quyết bằng Toà án. Việc áp dụng pháp luật VN còn đi liền với việc xem xét các chế định liên quan đến các công ước quốc tế hiện rất phổ biến như công ước LHQ về biến đổi khí hậu, Nghị định thư  KYOTO... liên quan đến việc hạn chế và quyền phát thải.

Nếu không nghiên cứu kỹ thì vô hình chung chúng ta chịu nhiều thiệt thòi khi phải gánh chịu nhiệu hậu quả do việc phát thải của các nước phát triển và các nước thuộc nhóm đang lên gồm TQ, Ấn Độ, Brasin.

Ví dụ, Việt Nam phải buộc các Công ty áp dụng các công nghệ-thiết bị  tiên tiến cho sản xuất ngay từ banđầu. Nhưng để họ áp dụng công nghệ, thiết bị lạc hậu phát thải nhiều chất thải gây tranh chấp, trong khi họ chứng minh họ có quyền phát thải do họ mua hạn ngạch từ 1 nơi khác như trồng rừng tại Ấn Độ thì chúng ta không có quyền xử lý họ. Bởi vậy phải kiểm soát ngay từ ban đầu.

IV. Thực tiễn:

Gần đây vụ Ve dan, vụ dân biểu tính tại NM rác Sơn Tây, khu xử lý Núi Thoong... cho thấy tình trạng vi phạm đang diễn ra phổ biến và thường xuyên.

Việc giải quyết vấn đề này gặp 1 số vấn đề như chưa thể bồi thường cho các hộ Nông dân, Toà án Long Thành trả đơn cho hơn 4.000 hộ dân thuộc lưu vực Sông Thị Vải...

Như phân tích ở trên, hiện thương lượng, hoà giải là biện pháp ưu tiên số 1.

Các cơ quan giả quyết tranh chấp cũng sử dụng biện pháp thuê chuyên gia. Việc thuê chuyên gia giúp tìm ra nguyên nhân được rõ ràng hơn, thuyết phục hơn, tuy nhiên để đưa ra được bằng chứng chứng minh mức độ lỗi, thiệt hại thì còn rát lâu.

Ở đây, cần nhấn mạnh rằng, các cơ quan công quyền như quản lý Nhà nước (Thanh tra, CA...), các tổ chức XH-nghề nghiệp cần tham gia vào giải quyết tranh chấp. Việc chỉ đạo sát xao của các Bộ TN-MT, thanh tra cũng buôc các doanh nghiệp vi phạm phải có thái độ tôn trọng, tích cực giải quyết, cũng như sự tham gia của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp góp phần tạo tiếng nói dư luận, sức ép đối với doanh nghiệp vi phạm để DN vi phạm nghiêm túc giải quyết,  không để  dây dưa...

 


Tags:  Tranh chấp môi trường-Thực tiễn xử lý
Newer news items
Older news items
&lt&lt Previous Page                    Next Page&gt&gt