|
Mạch in được sử dụng
rộng rãi trong công nghiệp điện, điện tử. Được dùng làm đế cho các linh kiện điện
tử, IC.v.v. Trên đó các mạch kết nối với các linh kiện điện tử được thiết kế sẵn
bằng những mạch đồng hay hợp kim của đồng trên đế bakelit hay bakelit sợi thuỷ
tinh. Lớp đồng trên bề mặt bakelit này được tạo ra bằng công nghệ mạ chân
không. Để tạo các mạch theo thiết kế người ta cho in các mẫu có sẵn lên trên bề
mặt bakelit bằng loại sơn chịu được hoá chất. Sau đó tấm bakelit được nhúng
trong dung dịch ăn mòn đồng (thường là hỗn hợp HCl + HNO3 hay axit
HCl đặc với sự có mặt của platin) để phá huỷ những phần đồng không được phủ sơn,
sau đó bakelit được rửa bằng dung dịch kiềm với nước nóng nhiều lần cho hết hoá
chất. Qua các công đoạn sản xuất trên ta thấy chất thải của quá trình sản xuất
mạch in gồm có (phân tích này theo bakelit của Liên Xô trước đây):
- Chất thải rắn: Các tấm bakelit hỏng ; kim loại nặng (Cu, Ag, Pb, As, Mn,
Sn, (một số có mặt trong sơn); các muối kim loại nặng: CuCl2, CuCl,
Cu(NO3)2, Pb(NO3)2, PbCl2,
Ag(NO3)
- Chất thải lỏng: Các ion kim loại trong dung dịch: CuCl2,
2H2O, Pb(NO3)2 .v.v...
Công nghệ khô
Chất thải được khuấy cùng Floculant của hãng Arion - Nhật
Bản để tách phần rắn ra khỏi dung dịch. Trong dung dịch chủ yếu gồm các dung dịch
Clorua và nitorat kim loại nặng. Bùn rắn chứa các kết tủa CuCl2,
CuCl, PbCl2, AgCl dễ dàng thu hồi kim loại bằng nhiệt luyện:
Cách làm cụ thể như sau:
Bùn + Na2CO3 + SiO2
+ Na2B4O7 nấu chảy trong lò phản xạ. Các bản bakalit được bảm nhỏ cho vào sau
khi hỗn hợp đã nóng chảy trong lò. Kim loại nóng chảy được rút ra đổ khuôn để
tinh luyện bằng điện phân. Xỉ được nghiền mịn đem thiêu hết sau đó xử lý bằng H2SO4
16% để thu hồi CuSO4. Bã còn lại được rửa sạch và thải loại. Đồng
trong bã này còn không quá 0,01%.
Công nghệ Hoả
luyện Thuỷ
luyện Bã
Kết quả thu hồi Cu % 98%
- 99% 2% - 2% 0,005
- 0,01%.
Công nghệ ướt
- Thu hồi CuCl2: Nếu trong bùn thải mạch
in chủ yếu chứa CuCl2 thì ta có thể thu hồi rồi tinh luyện để phục vụ
công nghệ hoá chất hay nông nghiệp. Chất thải được tách riêng phần rắn và phầnlỏng.
Phần rắn được cho vào nồi chưng có khuấy cùng với nước theo tỷ lệ 1/1 đun đến
90-1000C trong vòng 2-3 giờ, sau đó lọc lấy dung dịch. Bã lại quay
trở lại nồi chưng để cho vòng 2.
Trong dung dịch vừa tách ra chứa đến 40-50% CuCl2
công nghiệp. Quá trình này được thực hiện
cho đến khi trong bã không còn CuCl2 nữa thì thôi.
- Thu hồi CuCl: Bã sau khi thu hồi
CuCl2 ở phần a được khuấy cùng dung dịch NaCl30% ở nhiệt độ 900C
để hoà toan CuCl. Dung dịch được rút ra để
thu hồi CuCl. Tương tự như ở phần a cho đến khi không còn CuCl nữa thì thôi.
- Thu hồi As: Bùn còn lại được
cho vào dung dịch NaOH 5% theo tỷ lệ 1/1 đun sôi ở 1000C để hoà tan
As và các muối của Asen. Dung dịch được cho phản ứng với vôi cục hay Ca(OH)2
để thu kết tủa Asenat.
- Thu hồi Cu, Pb, Ag: Bã sau công đoạn c được
rửa sạch sau đó cho phản ứng với HNO3 5 - 10% loại HNO3 tỷ
trọng 1: 4. Cụ thể ngâm trong bể hay máy khuấy ở 600C cho đến khi
hoà tan hết Cu, Pb và Ag thì thôi. Dung dịch được rút ra để thu hồi kim loại.
Bã rửa sạch và loại bỏ.
Thu hồi CuCL2 trong dung dịch ban đầu
Phần dung dịch được tách ra trước khi thực hiện công
nghệ khô và ướt như vừa trình bày chủ yếu chứa CuCl2 và một số
nitrat kim loại nặng, được cho vào thiết bị để phản ứng với sắt. Trong phản ứng
này sắt sẽ đẩy kim loại nặng ra khỏi hỗn hợp muối.
Cu2+ + Fe
-> Cu + Fe2+
Thực tế thực hiện như sau: Phoi sắt được cho
vào trong thùng chứa dung dịch CuCl2 khuấy liên tục. Bột đồng sẽ rơi
xuống đáy thùng. Để phản ứng nhanh và triệt để có thể đun nóng dung dịch ở 500C.
Tags: News Xử Lý Chất Thải Rắn Công nghệ xử lý mạch in/Công nghệ xử lý mạch in News Xử Lý Chất Thải Rắn Related news items Newer news items
Older news items |